Vô Sắc Giới!


Mandala (Mạn đà la)

Trong bài viết nầy, dẫn từ một sự tình cờ đi trên đường vào lúc sáng, còn vắng bước chân xuôi ngược. Thấy có một người gần như giống dân Mễ pha Á đông, anh ta ngồi vẽ. Khi hỏi anh đang vẽ Phân dạng đồ (Fractal) hay Mạn-đà-la (Mandala), thì anh cho biết đó là Aztec Art “Hoa Mạn đà” (Mandara Flower), bộ tộc Aztec từng được xem là đế chế hùng mạnh, thuộc vùng đất nam Mỹ nằm trong lãnh thổ Mễ Tây Cơ ngày nay. Aztec có nhiều kiến trúc văn hóa kỳ bí, có nền văn minh cao nhất vùng lưu vực sông Mexico.

Nhìn vào đồ họa chợt nhớ về biểu tượng rất gần với mạn đà la của phật giáo Tây Tạng. Nhưng! Bài viết sẽ không nói sâu vào hình thái họa đồ theo các tông môn phái mật giáo thí dẫn. Mà chỉ muốn đưa ra một biểu thức khác liên đới với Mạn-đà-la trong quá trình khai mở về khái niệm “sáu nẽo vô minh” của Phật giáo để giải thích các nguyên khởi của nghiệp lực luôn chuyển động và phản hồi. Ngay cả mọi chu kỳ từ lúc sanh ra cho đến khi tái sanh. Đó là một chu kỳ dài nhất của một kiếp, tùy vào các nghiệp tạo tác của “Tự thân” mà có quả báo: Phúc-Nghiệt khác nhau.

Trong chánh đạo biện chứng của người Ấn giáo (Hinduism) và Phật giáo đồ (Buddhism) ngoài những giáo pháp nguyên lý Tứ diệu đế (Sinh-Lão-Bệnh-Tử) và duy lý Sáu nẽo vô minh (Nhãn-Nhĩ-Tỷ-Thiệt-Thân-Ý còn gọi là lục Căn) thì tất cả các pháp tự tu cứu cánh giải thoát thân tâm cho đời hiện tại hoặc đời sau. Chỉ là còn đứng ở ngưỡng ngõ của “Vô vô minh”, chứ chưa nói là bước tới “diệt vô vô minh tận”. Nói đến đây, nhiều người theo đạo giáo khác khó hiểu tường tận.

Phật giáo vốn tin vào “Nhân-Quả” và “Luân hồi” chứ không tham luận về những gì vượt qua khỏi: Bản ngã. Tức là chủ thể tác động sanh ra mọi nhân duyên đó là “Tâm” cũng là Bản ngã và cũng chính là phần Hồn, nói cách khác đó là Tự Thân (chính mình). Nếu không ai có thể nhìn thấy “chính mình” và khi sáu vô minh chưa được khai thông. Thì đừng nói gì đến chuyện tìm biết đến Thượng đế là ai, có hay không? luận bàn thêm chỉ mất thời giờ tu tập.

Hành tinh của chúng ta, tạm gọi là cõi của Vô minh, nhà Tạm hay nói cho rõ là nơi: Thử thách. Mỗi nhân tố là mỗi tấm gương, nó sẽ phản chiếu chéo nhau dầy đặc trong 6 dục vọng ( Sắc; Thanh; Hương; Vị; Súc và Pháp) còn gọi là Trần, đây chính là bụi hồng trần. Vì vậy! Rất ít ai nhận diện rõ được chính mình, họ chỉ biết nó qua “Tôi” nhân cách từ một chủ thể “Tôi” khác. Cho nên mới có chuyện chê trách hay phán quyết tội thiện của người khác, tức là họ chỉ thấy cái tập hợp của 6 “Căn tôi”(Nhân, Vật) để “cái tôi” phán đoán. Trong mỗi một căn đều có “cái tôi” riêng rẽ, tạm gọi là sáu căn thức. Cũng từ mỗi căn thức ấy mà sanh tạp tưởng.

Người đời thường nói về: “Cái tôi” và hay ám chỉ nó như một hạnh kiểm xấu, mà không nhận ra được rằng Bản ngã chính là “những cái Tôi” làm nên “cái Tôi” độc vị. “Cái tôi độc vị” đó có từ kiếp nầy đến sang kiếp khác không tạp nhiễm, hẳn trong chúng ta, những người ít nhiều nghe biết qua câu nói:
“Nhân chi sơ vi bổn thiện-人之初 性本善” của ngài Khổng Tử, ông cho rằng bổn hệ của con người vốn không hư xấu. Nhưng đó chỉ là cái nhận thức của ông dựa trên nền tảng tập tính xã hội để kết luận cho lý lẽ hình thành “Tam Tự Kinh” chứ nếu luận về “Nhân-Quả” theo Phật giáo thì câu nầy đã sai từ duyên khởi, bởi đứa bé sơ sinh vẫn biết phản ứng gay gắt khi đói, khi bị mất cái gì ưa thích sẽ nổi cáu, giãy giụa khi bị ức chế,v.v.., cho nên thiết nghĩ để minh luận cho “Cái Tôi độc vị bổn thiện” đó, phải sửa đổi huấn từ của ngài mới xem ra đúng nghĩa.
Vậy thay vì “bổn thiện-本善” mà nên đổi ra Vô Cữu-無咎; trong triết lý nhà Phật cho rằng: “Nhất tâm bất sinh vạn pháp vô cữu-一心不生萬法無咎”. Không hề sai!

Bản ngã chính là “cái Tôi độc vị” cũng là Tâm, là cái mà hầu hết loài người định lý cho nó là “Linh Hồn” hay “Thần Thức” ngắn hơn thì gọi là “Thức. Cái “Tâm” ấy ra sao?, hình thể của nó thế nào? và tác động của nó trên thân tứ đại có liên đới gì với nghiệp lực? Đó là một loạt câu hỏi mà không ít ai muốn biết hoặc vô số người không thừa nhận có câu trả lời. Cho nên chỉ có tự mình tìm lời giải đáp xác đáng: Ai là ta?

Tâm nguyên khởi vô nhiễm (Bổn thiện), nhưng mà một khi nó hình thành “6 tôi căn” chịu sự tác động của sáu “cái tôi trần” và sáu “cái tôi thức” thì nó đã mất đi cái “bổn thiện”; bởi 18 Nguyên Căn-Trần-Thức nó lúc nào cũng giao động, va chạm với 6 trần, qua từng giai đoạn xung lực (Impulses) mà sinh ra “Tham-Sân-Si” đây chính là “vi bất thiện” trong nghiệp lực luân hồi không dứt, nó có từ lúc sơ sinh trước khi chào đời. Vì vậy cho rằng: “nhân chi sơ vi bổn thiện” là chưa thấy tận tường gốc ngọn.

Không có “cái tôi” (Ý căn thức) để khống chế những cái tôi của năm căn thức còn lại (nhãn căn thức; Nhĩ căn thức; Tỉ căn thức; Thiệt căn thức; Thân căn thức) thì chẳng thể nào trở về bổn thiện được. Cho nên: “Nhất tâm (Ý căn thức) bất sinh vạn pháp vô cữu” là vậy, khi tâm không có bất cứ tạp niệm thì mọi sự không có thiện ác (lỗi phải). Muốn vậy phải tu tập qua thiền định

# Thiền Mạn Đà

Thiền Định, trong mạch ý đơn giản thì chỉ là ngồi lặng yên và tập trung. Nó không phải đơn giãn như văn tự hay ngôn từ để giải nghĩa như kiểu trích dịch một tập từ, Thiền để tự mình chứng ngộ cái “Tâm”(Ý Căn Thức- Cái Tôi) và để tự gỡ trói mỗi một nghiệp lực. Tức là giải phóng 6 Căn (nghiệp) 6 Trần (lực) luôn chuyển động trong thân người tứ đại yếu tố (Đất; Lữa; Gió; Nước..).
Có nhiều người thường hỏi: Ai tạo ra loài người? Phật giáo không hề luận bàn đến “Ai” trong nghi vấn nầy. Điều ấy không khó hiểu! Bởi loài người bị hạn chế trong cõi Vô Minh (Địa linh- Ta bà- Trần tục v.v..) mọi sự “thông thái” cũng không vượt qua 18 tầng nghiệp lực (Lục căn; Lục trần; Lục thức) hay nói một cách khác là đã bị ám thị Duy Vật luận, thì càng không thể biện chứng Duy Tâm, khi tất cả mọi sự thật đã bị trầm tích hàng muôn triệu triệu kiếp người, không có lời giải thích nào được xem là một cách hợp lý. Mà chỉ là Thọ Nhận chứ không có xác tính “Ai là tạo hóa” sau bức màng Vô Minh ấy.

Ấn giáo cho rằng còn có thêm 1 đại yếu tố hình thành trong con người, đó là: Không gian (Space- Hư không).
Chính cái “không gian” nầy là một bí ẩn đằng sau bức màng vô minh. Bức màn đó dầy dặn bởi 5 Uẩn (năm khúc mắc) gồm có Sắc; Thọ; Tưởng; Hành và Thức. Những ai vượt qua được năm bức màng Vô Minh (Không gian-space) họ xác thực được “Ai?” cho lời giải ngộ.
Muốn được tự chứng phải Tu Thiền, có nhiều môn thủ thiền chẳng hạn như:
  – Thiền Du già (Yoga)
  – Thiền Chánh niệm (Mindfulness)
  – Thiền Thượng tầng (Transcendental)
  – Thiền Hướng Định (Guided)
  – Thiền Quán (Vipassana)
  – Thiền Thiện Hạnh (Metta)
  – Thiền Luân Xa (Chakra)

Mỗi môn thiền cho mỗi cái cảm nhận ý thức khác nhau và sự đạt thắng của nó cũng khác nhau. Người tu theo đạo giải thoát dùng cái “Tôi độc vị” để phóng thích các “cái tôi nghiệp lực” và xuyên suốt 5 tầng mê đồ (Sắc; Thọ; Tưởng; Hành; Thức). Cho nên phải biết chọn cho mình pháp môn nào để không mất thời gian. Thiền Mạn Đà cũng giống như người đi trên Mê lộ đồ (Mazze), mà tất cả lối thoát đều phải vận dụng lực trì tấn dũng mảnh, phải tự mình phá mở tấm chắn nó ra, lộ đồ ấy sẽ cuốn hút hành giả ra vào chốn hư không, khi đạt tới đỉnh điểm tức thị thần thông soi thấu “không gian” như trong lời kinh Bát Nhã đã dẫn: “..thị cố không trung vô sắc..” đấy là đã hoàn mỹ công phu: “Diệt vô vô minh tận” và sẽ chẳng còn hoài nghi gì về cái “Ta” ở nơi cõi Tam thế Phật hay cũng gọi khác là Chúa Ba Ngôi. Ai? Ngự nơi đâu?.

Nguyenmk

Vía Chuẩn Đề 16/03/Canh Tý (08/04/2020)

Ảnh chụp trên hè phố

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s